1. Thế nào là tội cho vay nặng lãi
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015) được hiểu là hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đây là một tội phạm xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay.
2. Các yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi
Các yếu tố cấu thành tội phạm này được xác định như sau :
Khách thể của tội phạm: Tội cho vay lãi nặng xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, và lợi ích của công dân.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Một điểm đáng chú ý là nếu người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý công quỹ và dùng công quỹ cho vay lãi nặng mang tính chất bóc lột, họ vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Mặt khách quan của tội phạm: Bao gồm hai dấu hiệu chính:
+ Hành vi cho vay với lãi suất cao: Hành vi khách quan là cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do đó, nếu lãi suất cho vay từ 100%/năm trở lên (gấp 05 lần mức 20%/năm) thì hành vi cho vay có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng. Việc quy định cụ thể mức lãi suất này tạo ra một ranh giới định lượng rõ ràng giữa hành vi dân sự thông thường và hành vi có dấu hiệu tội phạm hình sự. Ngưỡng 100%/năm là một tiêu chí khách quan, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở vững chắc để xác định hành vi vi phạm, giảm thiểu sự tùy tiện trong quá trình áp dụng pháp luật.
+ Thu lợi bất chính hoặc các điều kiện khác: Để cấu thành tội phạm, hành vi cho vay lãi nặng phải đáp ứng thêm một trong các điều kiện sau: (1) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; (2) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc (3) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. “Thu lợi bất chính” được định nghĩa là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay.
Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Họ nhận thức rõ hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả đó xảy ra, hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Mặc dù mục đích thu lợi bất chính là bản chất của hành vi cho vay lãi nặng, nhưng mục đích này không phải là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Điều này có nghĩa là, việc xác định tội phạm tập trung vào hành vi khách quan (cho vay với lãi suất cao và thu lợi bất chính) hơn là vào ý định cụ thể của người phạm tội. Cách tiếp cận này giúp mở rộng phạm vi áp dụng của điều luật, đảm bảo rằng những hành vi gây thiệt hại cho xã hội do cho vay lãi nặng vẫn bị xử lý, ngay cả khi người phạm tội có thể biện minh bằng các mục đích khác ngoài việc trục lợi tuyệt đối.
3. Lãi suất vay bao nhiêu được xem là cho vay nặng lãi
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP thì “cho vay lãi nặng” là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Dẫn chiếu khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau:
– Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
– Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Như vậy theo quy định trên thì mức lãi suất cho vay vượt quá 100% trên một năm thì được xem là hành vi cho vay nặng lãi.
4. Khung hình phạt tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Nội dung Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điểm i, khoản 2, Điều 2 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi nội dung Điều 201 như sau: “i) Thay thế cụm từ “lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất” bằng cụm từ “lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất” tại khoản 1 và cụm từ “Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên” bằng cụm từ “Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” tại khoản 2 Điều 201;”
5. Cho vay nặng lãi có phải đi tù không
Người có hành vi cho vay nặng lãi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
– Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
– Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, người cho vay nặng lãi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong những trường hợp sau:
– Cho vay nặng lãi, thu lợi bất chính từ 30.000.000 trở lên.
– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với các khung hình phạt quy định. Trong đó, mức phạt cao nhất là phạt tù đến 03 năm.
Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Việc hỗ trợ tài chính, cho bạn bè hoặc người quen vay tiền là điều phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, ranh giới giữa “giúp đỡ” và “phạm pháp” rất mong manh khi mức lãi suất cho vay vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép. Theo quy định, nếu cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự (tức từ 100%/năm trở lên) và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên, người cho vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Trong bối cảnh tín dụng đen, cho vay online, và các hình thức cho vay “núp bóng giúp đỡ” ngày càng tinh vi, mỗi cá nhân cần hiểu rõ quy định pháp luật, tỉnh táo khi cho vay tiền và chỉ thỏa thuận trong khuôn khổ hợp pháp. Cho vay đúng luật không chỉ bảo vệ quyền lợi của người cho vay mà còn tránh được nguy cơ vướng vào vòng lao lý chỉ vì “giúp bạn sai cách”.

