Hiện nay, trên thực tế có rất nhiều trường hợp các bên ký “hợp đồng giả cách” nhằm đảm bảo cho khoản vay. Ví dụ, các bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán xe, hợp đồng mua bán tài sản, nhưng thực chất chỉ để bảo đảm cho việc vay tiền. Nếu bên vay không trả được nợ thì bên cho vay sẽ coi như đã được “chuyển nhượng” hoặc “mua” tài sản đó. Vậy, việc ký “hợp đồng giả cách” tiềm ẩn những rủi ro gì?
“Hợp đồng giả cách” là gì?
Hiện nay, chưa có định nghĩa cụ thể về “hợp đồng giả cách”. Tuy nhiên, có thể hiểu “hợp đồng giả cách” là một hợp đồng được ký kết nhằm che giấu một hợp đồng khác trên thực tế. Chúng ta thường hay gặp một số giao dịch sử dụng “hợp đồng giả cách” trên thực tế như: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng mua bán xe, Hợp đồng mua bán tài sản…để đảm bảo khoản vay.
Giá trị pháp lý của “Hợp đồng giả cách”
Căn cứ quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Căn cứ thêm quy định Điều 122 về giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Như vậy, trường hợp các Hợp đồng nào không đáp ứng một trong các điều kiện tại Điều 117 thì được xem là giao dịch vô hiệu.
Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Như vậy, “hợp đồng giả cách” thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu do giả tạo, “hợp đồng giả cách” không có giá trị pháp lý.
Thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng giả cách là bao lâu?
Theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu như sau:
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.
2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
Các rủi ro khi ký “Hợp đồng giả cách”
“Hợp đồng giả cách” thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu do giả tạo. Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
Trong trường hợp ký “hợp đồng giả cách” như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán xe, hợp đồng mua bán tài sản để đảm bảo cho khoản vay thì hợp đồng vay tiền được xác định là hợp đồng chính – hợp đồng bị che giấu và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán xe, mua bán tài sản để đảm bảo cho khoản vay là các hợp đồng giả tạo. Khi này, chỉ có hợp đồng vay tiền có giá trị pháp lý, các hợp đồng còn lại đều vô hiệu.
Quy định là vậy, tuy nhiên trên thực tế, việc chứng minh các hợp đồng vô hiệu không phải là điều dễ dàng bởi thông thường các hợp đồng này thường được công chứng, chứng thực theo đúng quy định. Để chứng minh các hợp đồng này vô hiệu thì phải chứng minh được có phát sinh quan hệ vay mượn nhưng thông thường, một khi các bên đã tính đến việc ký “Hợp đồng giả cách” thì ít khi lập hợp đồng vay tiền nên việc chứng minh có phát sinh quan hệ vay mượn là rất khó. Điều này dẫn đến rủi ro rất lớn cho bên vay tiền là Toà án sẽ công nhận các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng mua bán xe, hợp đồng mua bán tài sản dẫn đến nguy cơ bên mua mất luôn nhà, mất xe, tài sản.
Hậu quả pháp lý của Hợp đồng giả cách
Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
Như vậy, đối với các loại hợp đồng giả cách sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia loại hợp đồng này, hợp đồng này bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.
* Cách giải quyết hay xử lý hậu quả của hợp đồng giả cách được quy định như sau:
– Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
– Trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trả bằng hiện vật được quy bằng giá trị thành tiền để hoàn trả.
– Bên có lỗi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên ngay tình
– Bên ngay tình trong thu hoạch lợi tức không phải hoàn trả lại lợi tức đó.
– Giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền thân nhân do bộ luật này và các luật khác có liên quan quy định.
Tuy nhiên không phải lúc nào bên bị hại cũng có thể chứng minh với cơ quan phân xử và trường hợp xấu nhất xảy ra là bị mất tài sản, phải chi trả khoản nợ lớn gấp nhiều lần ghi trong hợp đồng.
Tóm lại, khi tham gia giao kết hợp đồng vay mượn, mua bán tài sản thì bạn cần phải đọc kỹ các chính sách của hợp đồng, các điều khoản hoặc có thể nhờ đến sự tư vấn của các chuyên gia pháp ký để hạn chế rủi ro khi ký kết hợp đồng cũng như tránh ký phải hợp đồng giả cách.
Luật sư Tứ – Tư vấn pháp lý chuyên sâu về hợp đồng, tranh chấp dân sự và xử lý rủi ro pháp lý trong giao dịch dân sự.

