Lợi dụng lúc cháy, loạn, thiên tai để “hôi của” – Có thể bị truy tố hình sự

Trong thời gian gần đây, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tài sản của công dân và trật tự an toàn xã hội. Đáng chú ý, có không ít trường hợp lợi dụng tình huống hỗn loạn như cháy nổ, thiên tai, dịch bệnh… để chiếm đoạt tài sản của người khác – hay còn gọi là hành vi “hôi của”.
Hành vi này không chỉ vi phạm đạo đức mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Vậy, Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì ? Hình phạt đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất của Bộ luật hình sự 2015 như thế nào? Có điểm gì khác so với Tội cướp tài sản, cướp giật tài sản?

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm nghiêm trọng được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam. Cụ thể, hành vi này có thể gây ra những hậu quả lớn đối với tài sản của cá nhân, tổ chức, và ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Dưới đây là phân tích về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ pháp lý

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Các yếu tố cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

khách thể:

Hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt.

– Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác

– Chủ thể:

Theo quy định tại điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội công nhiên chiếm đoạt TS, chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên

– Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi phạm tội: Người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh…

Một số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản sau:

+ Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ một cách công khai

+ Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hoả hoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.

Tính chất công khai trắng trợn  là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Việc thực hiện hành vi chiếm đoạt xảy ra bình thường  không cần nhanh chóng như đối với tội cướp giật tài sản. Tuy có cùng hành vi chiếm đoạt tài sản như tội cướp giật tài sản, nhưng người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ lợi dụng tình trạng người quản lý tài sản không có khả năng ngăn cản để chiếm đoạt tài sản của họ một cách công khai. Do vậy, người phạm tội không cần dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần (giống như Tội cướp tài sản) để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và lẩn tránh

– Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

* Về hình phạt: Mức phạt của tội này được chia thành 4 khung

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Hành hung để tẩu thoát;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;

đ) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điểm khác biệt giữa Tội chiếm giữ trái phép tài sản và Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

STT Tiêu chí Tội công nhiên

chiếm đoạt tài sản

Tội chiếm giữ

 trái phép tài sản

1 Căn cứ pháp lý Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017
2 Hành vi phạm tội Chiếm đoạt tài sản một cách công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu/người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh…

 

Ngoài ra, còn có hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng được thực hiện sau khi đã hoàn thành xong một tội phạm khác (mục đích ban đầu của người phạm tội là thực hiện tội phạm khác như giết người, hiếp dâm,… sau đó người phạm tội mới phát hiện tài sản của nạn nhân và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó)

Khi chủ tài sản/người quản lý tài sản yêu cầu trả lại nhưng người phạm tội:

 

– Không trả lại tài sản được giao nhầm cho chủ sở hữu tài sản, người quản lý hợp pháp tài sản đó.

 

– Không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm về tài sản mà mình tìm được, bắt được,…

3  

Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý (gồm cả lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp).
4 Khung hình phạt Khung 01:

Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng – 03 năm:

Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 – dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp mà pháp luật quy định.

– Khung 02:

Phạt tù từ 02 – 07 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 – dưới 200 triệu đồng;

+ Hành hung để tẩu thoát;

+ Tái phạm nguy hiểm;

+ Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;

+ Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 02 – dưới 50 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

– Khung 03:

Phạt tù từ 07 – 15 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 – dưới 500 triệu đồng;

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

– Khung 04:

Phạt tù từ 12 – 20 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên;

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

 

Khung 01:

Phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng – 02 năm:

Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10 – dưới 200 triệu hoặc dưới 10 triệu đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm… sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản.

– Khung 02:

Phạt tù từ 01 – 05 năm nếu chiếm giữ tài sản trị giá 200 triệu đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia.

 

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tuy không sử dụng vũ lực nhưng có tính xâm phạm trắng trợn đến quyền sở hữu của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội. Cần nâng cao ý thức bảo vệ tài sản, đồng thời hiểu rõ quy định pháp luật để nhận diện hành vi vi phạm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *